Why looking up at the stars is good for your mental health

Tại sao ngắm sao là tốt cho sức khỏe tinh thần

By in Khoa học - CNTT share share share share share share share share share share share share share share share share share share

Stephen Hawking said many inspiring things, but one of the most memorable for me was what he once said during an address at Cambridge University in 2012. Talking there, he encouraged his rapt audience to to ‘look up at the stars and not down at your feet’.

Dịch đoạn này

Stephen Hawking nói nhiều điều đầy cảm hứng, nhưng một trong những điều đáng nhớ nhất đối với tôi là điều ông từng nói trong một bài diễn văn tại Đại học Cambridge vào năm 2012. Nói chuyện ở đó, ông khuyến khích khán giả của mình hãy ‘nhìn lên các vì sao và đừng nhìn xuống’.

[Đóng lại]

Believing it could offer inspiration and impetus to keep going in adversity, Stephen Hawking encouraged an audience at Cambridge University to look upward CREDIT: MITJA KOBAL/ GETTY IMAGES CONTRIBUTOR

Dịch đoạn này

Stephen Hawking khuyến khích các khán giả tại Đại học Cambridge hãy nhìn về phía trước, tin rằng việc này có thể tạo nguồn cảm hứng và động lực để vượt qua nghịch cảnh. CREDIT: MITJA KOBAL/ GETTY IMAGES CONTRIBUTOR

[Đóng lại]

Try to make sense of what you see, and wonder about what makes the universe exist. Be curious. And however difficult life may seem, there is always something you can do and succeed at. It matters that you don’t just give up.’

Dịch đoạn này

Cố gắng hiểu được những gì bạn thấy và tự hỏi rằng điều gì làm cho vũ trụ này tồn tại. Hãy hiếu kỳ. Tuy rằng cuộc sống vẫn còn có khó khăn, nhưng sẽ luôn có điều gì đó mà bạn có thể thực hiện và thành công. Điều quan trọng là bạn không được từ bỏ’.

[Đóng lại]

This, from a man who by 2012 had lost voluntary control of his body, so he could no longer choose to look upwards. But he could imagine—and he knew which direction of gaze, whether in imagination or reality, offers the greater inspiration, and which attitudes give the strongest impetus to keep going in adversity.

Dịch đoạn này

Câu nói này là của một người đàn ông vào năm 2012 đã mất sự kiểm soát chủ động của cơ thể, vì vậy ông không còn có thể nhìn lên trên được nữa. Nhưng anh có thể tưởng tượng – và anh biết hướng nhìn nào, dù trong trí tưởng tượng hay thực tế đều mang đến nguồn cảm hứng lớn hơn, và thái độ nào tạo động lực mạnh nhất để tiếp tục vượt qua nghịch cảnh.

[Đóng lại]

Todd Kashdan and Michael Steger at George Mason University in Virginia asked 97 undergraduates to fill in a series of personality questionnaires, then keep a diary for three weeks. They discovered that those among them who scored high on curiosity, who looked beyond themselves, enjoyed life more and felt their own existence had more meaning than those who were more inward looking.

Dịch đoạn này

Todd Kashdan và Michael Steger tại Đại học George Mason ở Virginia đã yêu cầu 97 sinh viên đại học điền vào một loạt bảng câu hỏi về tính cách, sau đó giữ cuốn nhật ký này trong ba tuần. Họ phát hiện ra rằng trong số những người đó có người đã đạt điểm cao về sự tò mò, những người nhìn xa hơn chính bản thân họ thì tận hưởng cuộc sống nhiều hơn và cảm thấy sự tồn tại của chính họ có ý nghĩa nhiều hơn những người sống nội tâm.

[Đóng lại]

The idea that Hawking’s advice really does lead to greater wellbeing, determination and sense of purpose is given further muster in a survey of over 1200 Swiss and American adults undertaken by Christopher Peterson at the University of Michigan. Willibald Ruch found the qualities more strongly linked to high levels of life satisfaction were love, gratitude, curiosity and perserverance.

Dịch đoạn này

Có quan niệm rằng lời khuyên của Hawking thực sự dẫn đến sự hạnh phúc hơn, quyết tâm và ý thức về mục đích được đưa ra thêm trong cuộc khảo sát hơn 1200 người Thụy Sĩ và người Mỹ trưởng thành do Christopher Peterson tại Đại học Michigan thực hiện. Willibald Ruch thấy rằng những phẩm chất liên kết chặt chễ đến mức độ hài lòng cuộc sống là tình yêu, lòng biết ơn, sự tò mò và sự kiên trì.

[Đóng lại]

Of course, Hawking was using his ‘look up to the stars’ as a metaphor, but our mindset is also affected by how we physically present our selves. Our posture, whether we slump and look down, or hold ourselves upright— is related to mood.

Dịch đoạn này

Tất nhiên, Hawking sử dụng hình ảnh ‘nhìn lên các vì sao’ như một phép ẩn dụ, nhưng tư duy của chúng ta cũng bị ảnh hưởng bởi cách chúng ta thể hiện bản thân mình. Tư thế của chúng ta, cho dù chúng ta có sụp xuống hay nhìn xuống, hoặc luôn giữ chính mình đứng thẳng thì đều có liên quan đến tâm trạng.

[Đóng lại]

A study by John Riskind at Texas A&M and Carolyn Gotay at the University of Calgary found those who slumped gave up more readily when challenged with difficult tasks, and reported higher stress levels than those who were upright.

Dịch đoạn này

Một nghiên cứu của John Riskind tại Texas A & M và Carolyn Gotay tại Đại học Calgary đã tìm thấy những người sụp xuống đã bỏ cuộc dễ dàng hơn khi đối mặt với những nhiệm vụ khó khăn và mức độ căng thẳng cao hơn những người đứng thẳng.

[Đóng lại]

In related work, Vietta Wilson at York University in Toronto and Erik Peper at San Francisco State University asked volunteers to generate positive or negative thoughts while either slumped or in an upright position. Participants found it significantly easier to produce positive thoughts when they were upright.

Dịch đoạn này

Trong công việc có liên quan, Vietta Wilson tại Đại học York ở Toronto và Erik Peper tại Đại học bang San Francisco yêu cầu các tình nguyện viên tạo ra những suy nghĩ tích cực hoặc tiêu cực khi trong các vị trí ngồi sụp xuống hoặc đứng thẳng. Những người tham dễ dàng tạo ra những suy nghĩ tích cực khi họ đứng thẳng.

[Đóng lại]

‘Participants found it significantly easier to produce positive thoughts when they were upright’ CREDIT: VCG/VISUAL CHINA GROUP

Dịch đoạn này

Những người tham gia dễ dàng tạo ra những suy nghĩ tích cực khi họ đứng thẳng. CREDIT: VCG/VISUAL CHINA GROUP

[Đóng lại]

Carissa Wilkes and colleagues at the University of Auckland recruited 74 adults with mild to moderate depression to test whether teaching upright posture could alleviate low mood. Participants were asked either to assume their usual position (significantly slumped) or were taught to sit upright.

Dịch đoạn này

Carissa Wilkes và các đồng nghiệp tại Đại học Auckland tuyển dụng 74 người lớn bị trầm cảm từ nhẹ đến trung bình để kiểm tra xem liệu việc dạy tư thế đứng thẳng có thể làm giảm bớt tâm trạng kém không. Những người tham gia được yêu cầu hoặc thực hiện vị trí thông thường của họ (ngồi sụp đáng kể ) hoặc được dạy ngồi thẳng.

[Đóng lại]

Mood and fatigue levels were assessed, and everyone was given two standardised stress tests—to prepare and deliver a speech and complete a difficult arithmetic test. The upright group scored higher for positive mood and self-esteem and reported less fatigue. When delivering their speech, those who sat upright had more to say and used fewer self-referential terms, indicating less self-focus.

Dịch đoạn này

Tâm trạng và mức độ mệt mỏi đã được đánh giá và mọi người được đưa 2 bài kiểm tra stress tiêu chuẩn để chuẩn bị và đọc một bài phát biểu và hoàn thành một bài kiểm tra số học khó khăn. Nhóm đứng thẳng ghi điểm cao hơn về tâm trạng tích cực, lòng tự trọng và ít sự mệt mỏi hơn. Khi phát biểu, người ngồi thẳng có nhiều điều để nói hơn và sử dụng ít thuật ngữ tự tham chiếu hơn- những điều cho thấy sự kém tập trung.

[Đóng lại]

So Hawking was right in so many ways and about so many things. He understood if we work steadfastly to solve the problems we face; if we focus outwards rather than inwards and if we think about our surroundings and the ways we can help others more than about ourselves, we’ll feel more fulfilled, purposeful and happier

Dịch đoạn này

Vì vậy, Hawking đã đúng trong rất nhiều cách và rất nhiều thứ. Ông ấy hiểu nếu chúng ta làm việc kiên định để giải quyết các vấn đề chúng ta phải đối mặt; nếu chúng ta tập trung hướng ra ngoài thay vì bên trong và nếu chúng ta suy nghĩ về môi trường xung quanh và cách mà chúng ta giúp đỡ người khác hơn là chính bản thân mình, chúng ta sẽ cảm thấy thỏa mãn hơn, sống có mục đích và hạnh phúc hơn.

[Đóng lại]

Source: Telegraph

Recommended posts